HA LONG NATURE: Phát hiện loài bướm nâu đặc biệt, bậc thầy ngụy trang, Gastropacha pardale Walker, 1855
Thứ ba - 31/03/2026 11:16
Phát hiện sâu bướm Gastropacha pardale trên thân cây keo (Acacia Auriculiformis Mangium). Quá trình theo dõi chuyển hóa thành kén rồi thành bướm cho thấy chúng là bậc thầy về ngụy trang từ sâu thành bướm. Gastropacha pardale thuộc họ Lasiocampidae, thường được biết đến với tên gọi bướm đêm cánh.
Tên tiếng Anh: Brown lappet moth.
Mô tả: Đầu và ngực màu nâu đỏ, có một sọc tối trên đỉnh đầu. Bụng màu nâu đỏ nhạt. Cánh trước màu nâu vàng nhạt hẹp và dài với mép ngoài tròn. Bốn đường lượn sóng tối mờ nhạt. Có một chấm đen ở cuối ô. Cánh sau màu vàng đất hoặc nâu đỏ với ba đường lượn sóng mờ nhạt ở vùng bên trong. Có thể tìm thấy một mảng màu vàng đất lớn bên dưới gân cánh. Xúc giác mảnh, rất dài và màu đen. Râu dạng lược. Chân có cựa nhỏ. Giới tính khác nhau, trong đó con cái không có mảng màu vàng đất trên cánh sau.
Ấu trùng trưởng thành dài khoảng 7 cm.
Sinh thái học: G. pardale đóng vai trò kép: vừa là loài ăn thực vật gây ảnh hưởng đến tán rừng và cây trồng thông qua việc ăn trụi lá, có khả năng làm thay đổi động thái quần thể thực vật, vừa là con mồi cho các loài chim ăn côn trùng và là vật chủ cho ong và ruồi ký sinh giúp điều chỉnh quần thể của chúng. Chưa có tổ chức lớn nào như IUCN chính thức xếp loài này vào diện bảo tồn, mặc dù các biện pháp quản lý dịch hại tại địa phương, chẳng hạn như sử dụng hóa chất trong các vườn xoài, có thể làm giảm số lượng và làm nổi bật những thiếu sót trong các đánh giá mối đe dọa rộng hơn.
Mô tả: Đầu và ngực màu nâu đỏ, có một sọc tối trên đỉnh đầu. Bụng màu nâu đỏ nhạt. Cánh trước màu nâu vàng nhạt hẹp và dài với mép ngoài tròn. Bốn đường lượn sóng tối mờ nhạt. Có một chấm đen ở cuối ô. Cánh sau màu vàng đất hoặc nâu đỏ với ba đường lượn sóng mờ nhạt ở vùng bên trong. Có thể tìm thấy một mảng màu vàng đất lớn bên dưới gân cánh. Xúc giác mảnh, rất dài và màu đen. Râu dạng lược. Chân có cựa nhỏ. Giới tính khác nhau, trong đó con cái không có mảng màu vàng đất trên cánh sau.
Ấu trùng trưởng thành dài khoảng 7 cm.
Sinh thái học: G. pardale đóng vai trò kép: vừa là loài ăn thực vật gây ảnh hưởng đến tán rừng và cây trồng thông qua việc ăn trụi lá, có khả năng làm thay đổi động thái quần thể thực vật, vừa là con mồi cho các loài chim ăn côn trùng và là vật chủ cho ong và ruồi ký sinh giúp điều chỉnh quần thể của chúng. Chưa có tổ chức lớn nào như IUCN chính thức xếp loài này vào diện bảo tồn, mặc dù các biện pháp quản lý dịch hại tại địa phương, chẳng hạn như sử dụng hóa chất trong các vườn xoài, có thể làm giảm số lượng và làm nổi bật những thiếu sót trong các đánh giá mối đe dọa rộng hơn.
Gastropacha pardale, Hong Kong. Ảnh: Alex Worsey

Gastropacha pardale, Hong Kong. Ảnh: jasperbasil
https://moth.tbn.org.tw/images/twmoth142/twmoth709040.jpg
Hình ảnh ghi nhận quá trình biến thái từ sâu đến bướm:
Gastropacha pardale Walker, 1855. Tinh mắt mới nhận ra sâu trên thân cây keo, tư thế bất động
Phản ứng khi bị quấy rầy

Ăn lá cây keo


Đóng kén giữa các lá cây keo (21/3/2026)
Nở thành bướm sau 10 ngày (31/3/2026)
Chiều dài thân 33 mm
Cận cảnh phần đầu
Gastropacha pardale Walker, 1855Tác giả: A Đông
Bài viết xem nhiều
-
Tìm hiểu các loài rùa biển: 5 trên 7 loài có mặt ở Việt Nam
-
Tìm hiểu ngành chân khớp (ARTHROPODA)
-
Bướm đêm hầu gái (Handmaiden moths )
-
Bác Hồ với quan điểm bảo vệ môi trường thiên nhiên, phát triển kinh tế xanh bền vững
-
Báo cáo đa dạng sinh học: Chích chòe than (Copsychus saularis)
-
Báo cáo đa dạng sinh học: Kỷ Jura qua đi, Nhông hàng rào ở lại
-
Những điều thú vị về cá tráp biển
-
Báo cáo đa dạng sinh học: Bướm phượng cam (Papilio demoleus)
-
Báo cáo đa dạng sinh học: Chim Hoét đá
-
Chim hút mật tía (họng đen)



















