Tìm hiểu bốn loài bướm nguy cấp, quý, hiếm

Chủ nhật - 29/03/2026 11:12

1. Bướm phượng đuôi kiếm răng nhọn
Tên khoa học: Teinopalpus aureus Mell, 1923
Tên tiếng Anh: Golden Kaiser-I-Hind
Teinopalpus aureus Mell, 1923, China. Ảnh: LVDIAN
Teinopalpus aureus Mell, 1923, China. Ảnh: PLee
Sinh học, sinh thái: Thường thấy trên độ cao trên 1,500m. Con đực ưa thích đỉnh núi, trong khi đó con cái giới hạn ở nơi có nhiều loài cây họ Ngọc lan Magnoliaceae. Theo quan sát được ở Vườn quốc gia Bi Đúp - Núi Bà, con đực xuất hiện vào tháng 4 trên đỉnh núi ở độ cao khoảng 1,900m và từ 8.30 - 9.00 giờ sáng đến 11 - 12 giờ trưa. Vòng đời của loài bướm này hiện vẫn chưa biết.
Phân bố: Trong nước: Cao Bằng (Khu bảo tồn Pioac), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Hà Tĩnh (Vườn quốc gia Vũ Quang), Lâm Đồng (Bi Đúp).
Thế giới: Đông Nam Trung Quốc (Đảo Hải Nam).
Giá trị: Loài hiếm và là hợp phần của quần xã bướm núi; Loài chỉ thị cho sự duy trì môi trường sống rừng nhiệt đới.
Tình trạng: Thiếu thông tin về mức độ phong phú các quần thể. Nhân tố đe doạ chủ yếu là khai thác gỗ, thu bắt, buôn bán mẫu vật. Mối đe doạ giảm bớt tại các khu bảo vệ và vùng núi cao.
Phân hạng: VU A1c,d B1+2b.
Biện pháp bảo vệ: Quan trọng nhất là bảo vệ nơi ở tại các vùng núi cao, cấm việc chặt phá rừng và giảm các hoạt động thu bắt.
2. Bướm phượng đuôi kiếm răng tù
Tên khoa học: Teinopalpus imperialis Hope, 1843
Tên tiếng Anh: Kaiser-I-Hind
Teinopalpus imperialis Hope, 1843, Thailand. Ảnh: desertnaturalist 
Teinopalpus imperialis Hope, 1843, India. Ảnh: Atanu Bose 
Đặc điểm nhận dạng: Loài lưỡng hình ở hình dạng và kích cỡ cánh sau. Con đực có một đuôi dài ở mạch cánh thứ 4. Con cái có hai đuôi dài ở mạch cánh thứ 4 và 6, ba đuôi ngắn ở mạch cánh thứ 2, 3 và 5. Con cái màu xám hơn với đốm màu vàng ở nửa phần dưới cánh sau. Con đực nhỏ hơn con cái. Loài này giống với loài Teinopalpus aureus, chỉ khác là có đốm màu vàng chanh chiếm khoảng 1/2 buồng giữa của cánh sau con đực. Đường ở giữa cánh sau con cái hướng vào nách cánh.
Sinh học, sinh thái: Con đực thường bay trên đỉnh ở độ cao trên 2000m. Thời gian hoạt động từ 7h30 tới trưa. Con đực thường bay đến nơi ẩm ướt và hút ẩm ở lá cây. Khi trời đầy mây, chúng ngừng tất cả các hoạt động. Con cái cũng thấy bay trên đỉnh núi, có lẽ để tìm kiếm con đực. Con cái bay cả trong những ngày trời nắng, mưa và cũng thích ánh nắng mặt trời. Kiểu bay nhanh và nhẹ, chúng rất ít khi viếng thăm hoa và nơi ẩm ướt (Haribal, 1992). Ở Ngọc Linh, các cá thể cái thu được tại thượng nguồn suối trong rừng ở độ cao 1700m. Theo Igarashi (1987) con cái đẻ trứng ở mặt trên lá loài Magnolia campbelli (Magnoleaceae). Ấu trùng thường ăn lá non. Mặc dù trứng được đẻ trên lá trưởng thành, ấu trùng vẫn di chuyển đến lá non để ăn. Ấu trùng ở mặt trên của lá và khi không ăn chúng nghỉ trên lá, phần được cuộn lại bằng tơ để tránh ánh nắng trực xạ của mặt trời. Thời gian của giai đoạn ấu trùng khoảng 50 ngày.
Phân bố: Trong nước: Lào Cai (Vườn quốc gia Hoàng Liên), Cao Bằng (Khu bảo tồn Pioac), Vĩnh Phúc (Vườn quốc gia Tam Đảo), Kontum (Khu bảo tồn Ngọc Linh).
Thế giới: Nêpan, Đông Bắc Ấn Độ (Sikkim, Assam), Mianma, Tây Nam Trung Quốc, Bắc Thái Lan, Lào.
Giá trị: Loài hiếm và là hợp phần của quần xã bướm núi. Loài chỉ thị cho sự duy trì môi trường sống rừng nhiệt đới.
Tình trạng: Còn thiếu thông tin về mức độ phong phú của các quần thể. Chịu tác động của việc phá rừng và thu bắt, buôn bán mẫu vật. Các nhân tố đe doạ giảm bớt tại các khu bảo vệ và vùng núi cao.
Phân hạng: VU A1c,d B1+2b.
Biện pháp bảo vệ: Quan trọng nhất là bảo vệ nơi ở tại các vùng núi cao, cấm việc chặt phá rừng và các hoạt động thu bắt.
https://www.vncreatures.net/pictures/insect/229_1s.jpg
Hình: Vũ Văn Liên
3. Bướm phượng cánh chim chấm rời

Xem tại https://dadangsinhhoc.vn/tin-tuc-su-kien/ha-long-nature-buom-phuong-canh-chim-cham-roi-troides-aeacus-c-r-felder-1860-263.html
4. Bướm phượng cánh chim chấm liền
Tên khoa học: Troides helena (Linnaeus, 1758)
Tên tiếng Anh: Common Birdwing
Troides helena (Linnaeus, 1758), Bangladesh. Ảnh: Md Tarak Hossen
Troides helena (Linnaeus, 1758), India. Ảnh: Uday Agashe 
Dạng nhận dạng đặc biệt: Ở con đực nhìn từ trên xuống: Đôi cánh trước màu nhung đen, với viền màu sáng. Đôi cánh sau phần lớn màu vàng rực rỡ với những chấm đen ở viền cánh; một hoặc một số chấm đen ở gần gốc cánh trước có thể được cắt bớt. Con cái nhìn từ trên xuống: Đôi cánh trước gần giống như ở con đực. Trên một phần của cánh sau, các chấm đen ở mép cánh có một hoặc một loạt mảng thuộc cánh cánh ở vùng không gian; Ngoài ra, một số chấm đen thuộc viền cánh ở vùng 2 và 3 không liên tục, những dấu chấm còn lại liền với nhau, nhìn chung con cái lớn hơn con đực. Sải cánh: 140 - 170m, trong lúc bay nhìn rất giống loài Troides aeacus.
Sinh học, sinh thái: Ở nước ta có thể tìm thấy ở vùng rừng nước mưa nhiều. Chim này thường ra vào lúc bắt đầu có buổi sáng nắng nhẹ và buổi chiều tà, chúng bay với tốc độ vừa phải, không cao và cỏ khô trên các bụi cây có hoa. Do đó chúng rất dễ dàng được đưa vào bộ sưu tập. Người ta đã nhìn thấy chúng bay thành đôi để giao phối mùa hè. Ở Thái Lan người ta đã nhân nuôi giống Troides thành công.
Phân bố: Trong nước: Gặp ở các vùng rừng ẩm nhưng không thường xuyên như: Vĩnh Phúc (Tam Đảo, Mê Linh), Ninh Bình (Cúc Phương), Quảng Trị (Tân Lâm), Đà Nẵng (bán đảo Sơn Trà).
Thế giới: Ấn Độ (Sikkim), Mianma, Trung quốc, Thái Lan, Lào, Malaixia, Indonesia (Borneo).
Giá trị: Là loài bướm đẹp được các nhà sưu tập ưa thích, được đánh giá là một trong các loài bướm đẹp nhất thế giới.
Tình trạng: Tuy là loài phân bố rộng rãi trên toàn quốc nhưng chúng đã và đang là đối tượng để trao đổi, buôn bán trong nước và trên thị trường quốc tế. Số lượng cá của chúng ở rất nhiều nơi nhưng sẽ bị suy giảm tốc độ phát triển rừng.
Phân hạngVU A2a,c,d B2b,d,e + 3b,c,d.
Là loài đã được đưa vào Sách Đỏ Việt Nam vào năm 2000. Khu vực sinh sống của chúng phần lớn đang thuộc về các khu rừng cấm quốc gia và các khu bảo tồn thiên nhiên. Trước mắt cần phải ngăn chặn việc thu thập loài này với mục tiêu buôn bán, trao đổi. Bảo vệ rừng tự nhiên, tốt nhất là những vùng rừng nhiệt đới ẩm thực nơi loài này sống thích hợp và nên nghiên cứu nhân nuôi chúng để bổ sung số lượng.
Theo Thông tư số 27/2025/TT-BNNMT ngày 24/6/2025 của Bộ Nông nghiệp và Môi trường Quy định về quản lý loài nguy cấp, quý, hiếm; nuôi động vật rừng thông thường và thực thi Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, loài Troides aeacus (C. & R. Felder, 1860) thuộc Nhóm IIB.
Nhóm II: Loài hạn chế khai thác và sử dụng vì mục đích thương mại, bao gồm: Loài thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm (Nhóm IIA: thực vật rừng, Nhóm IIB: động vật rừng).
Tham khảo:
https://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=214371&classid=1&orggroupid=4
https://www.gbif.org/occurrence/3915435901
https://www.gbif.org/occurrence/4075963256
https://www.gbif.org/occurrence/6131492788

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây